04 BẤT LỢI KHI KHÔNG ĐĂNG KÝ MÃ SỐ THUẾ CÁ NHÂN

07 Tháng Mười Một

04 BẤT LỢI KHI KHÔNG ĐĂNG KÝ MÃ SỐ THUẾ CÁ NHÂN

Mã số thuế là một dãy số, chữ cái hoặc ký tự do cơ quan quản lý thuế cấp cho người nộp thuế để nhận biết, xác định từng người nộp thuế và được quản lý thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Vậy thì, doanh nghiệp có bắt buộc phải đăng ký mã số thuế thu nhập cá nhân cho người lao động không, nếu không thì người lao động sẽ gặp những bất lợi gì?

 

Căn cứ theo quy định tại Khoản 5 Điều 6 của Thông tư 95/2016/TT-BTC thì doanh nghiệp thực hiện đăng ký thuế cho cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công và đăng ký thuế cho người phụ thuộc của cá nhân một lần trong năm chậm nhất là 10 ngày làm việc trước thời điểm nộp hồ sơ quyết toán thuế thu nhập cá nhân (sau đây gọi tắt là “TNCN”) hàng năm.

Do đó, doanh nghiệp cần kiểm tra cá nhân nào có phát sinh thu nhập từ tiền lương, tiền công mà chưa có mã số thuế TNCN thì thực hiện đăng ký mã số thuế TNCN cho cá nhân đó trước thời điểm quyết toán thuế TNCN.

Việc cá nhân không có mã số thuế thì sẽ ảnh hưởng đến các quyền lợi của mình như sau:

Thứ nhất, không làm được cam kết mẫu 02/CK-TNCN để làm căn cứ tạm thời không khấu trừ thuế TNCN

Theo Điểm i Khoản 1 Điều 25 Thông tư 111/2013/TT-BTC, trong trường hợp cá nhân chỉ có duy nhất thu nhập thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo mức 10% nhưng ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế của cá nhân sau khi giảm trừ gia cảnh chưa đến mức phải nộp thuế thì cá nhân có thu nhập làm Bản cam kết 02/CK-TNCN ban hành kèm theo Thông tư 92/2015/TT-BTC để làm căn cứ tạm thời không khấu trừ thuế TNCN.

Cá nhân làm cam kết theo hướng dẫn tại điểm này phải đăng ký thuế và có mã số thuế tại thời điểm cam kết.

Như vậy, nếu cá nhân thuộc đối tượng phải khấu trừ thuế theo mức 10%, mặc dù ước tính tổng mức thu nhập chịu thuế không vượt quá 108.000.000 đồng/năm nhưng không có mã số thuế thì sẽ không được làm cam kết mẫu 02/CK-TNCN và bị khấu trừ thuế TNCN theo quy định.

Thứ hai, không được hoàn lại phần thuế TNCN nộp thừa

Quy định tại Khoản 2 Điều 8 của Luật Thuế thu nhập cá nhân năm 2007, cá nhân được hoàn thuế khi: (i) Số tiền thuế đã nộp lớn hơn số thuế phải nộp; (ii) Hoặc, cá nhân đã nộp thuế nhưng có thu nhập tính thuế chưa đến mức phải nộp thuế; (iii) Hoặc, các trường hợp khác theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Đồng thời, căn cứ tại Khoản 1 Điều 28 Thông tư 111/2013/TT-BTC thì việc hoàn thuế TNCN áp dụng đối với những cá nhân đã có mã số thuế tại thời điểm nộp hồ sơ quyết toán thuế.

Do đó, cá nhân không có mã số thuế TNCN khi quyết toán thuế TNCN sẽ không được hoàn thuế.

Thứ ba, không đủ điều kiện để giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc

Căn cứ theo quy định tại Tiết c.2.1 Điểm c Khoản 1 Điều 9 của Thông tư 111/2013/TT-BTC, người nộp thuế được tính giảm trừ gia cảnh cho người phụ thuộc nếu người nộp thuế đã đăng ký thuế và được cấp mã số thuế.

Vì vậy, trong trường hợp cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công trên 09 triệu đồng/tháng nhưng không có mã số thuế thì không thể đăng ký giảm trừ gia cảnh đối với người phụ thuộc.

Thứ tư, không được ủy quyền quyết toán thuế TNCN đối với cá nhân không có mã số thuế TNCN

Cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công có thể ủy quyền cho doanh nghiệp trả thu nhập quyết toán thuế thay trong các trường hợp theo quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 26 của Thông tư 111/2013/TT-BTC.

Tuy nhiên, cá nhân ủy quyền quyết toán thuế thu nhập cá nhân phải có mã số thuế TNCN.

 

Nguồn Thư viện pháp luật

 

© Copyright 2018 KETOANSAINAM.COM
Designed byViễn Nam
image